NTTU – AI liên tục tạo ra công nghệ, công cụ và phương thức làm việc mới. Trước tốc độ thay đổi đó, đào tạo sau đại học không thể chỉ dừng ở việc bổ sung
📌 Thông tin nhanh
- Chủ đề: Chiến Lược AI
- Nguồn: Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
- Cập nhật: 04/08/2026
Bức tranh tổng quan
Nội dung chi tiết
NTTU – AI liên tục tạo ra công nghệ, công cụ và phương thức làm việc mới. Trước tốc độ thay đổi đó, đào tạo sau đại học không thể chỉ dừng ở việc bổ sung một số học phần theo xu hướng. Bài toán đặt ra cho trường đại học là chuẩn bị đồng bộ chương trình, đội ngũ, hạ tầng nghiên cứu và mạng lưới đối tác để người học có khả năng nghiên cứu, phát triển công nghệ và giải quyết các vấn đề nảy sinh từ thực tế
Vừa qua, Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành tổ chức Hội thảo tham vấn các bên liên quan về chương trình đào tạo sau đại học và xây dựng Đề án mở ngành đào tạo Thạc sĩ Trí tuệ nhân tạo.
Hội thảo tập trung vào các nội dung chính gồm định hướng phát triển đào tạo sau đại học; đánh giá, cập nhật chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ Công nghệ thông tin; giới thiệu Đề án mở ngành đào tạo Thạc sĩ Trí tuệ nhân tạo; đồng thời lấy ý kiến về mục tiêu, chuẩn đầu ra, cấu trúc chương trình, nội dung đào tạo và mức độ đáp ứng nhu cầu thực tiễn.






Toàn cảnh Hội thảo tham vấn các bên liên quan về chương trình đào tạo sau đại học và xây dựng Đề án mở ngành đào tạo Thạc sĩ Trí tuệ nhân tạo tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành
Một hội thảo đặt trong khung chính sách mới về AI
Hoạt động tham vấn diễn ra khi hành lang pháp lý và định hướng quốc gia về trí tuệ nhân tạo vừa có nhiều thay đổi.
Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ 01/3/2026. Quyết định 367/QĐ-TTg ngày 28/02/2026 xác định AI là công nghệ chiến lược, giữ vai trò quyết định đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, tiếp nối Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo đến năm 2030 ban hành theo Quyết định 127/QĐ-TTg. Cùng thời gian, Luật Giáo dục đại học sửa đổi (34/2018/QH14 và 125/2025/QH15) có hiệu lực từ 01/01/2026.
Ở cấp trường, Nghị quyết số 38/NQ-HĐT ngày 06/5/2026 ban hành Chiến lược phát triển Trường Đại học Nguyễn Tất Thành giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn 2045, với định hướng chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI.
Đây là bối cảnh để Khoa Công nghệ Thông tin rà soát các chương trình sau đại học hiện có và chuẩn bị đề án mở ngành mới, đồng thời góp phần triển khai Nghị quyết 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Về phía chuyên gia, nhà khoa học:GS.TS.NGND Phan Thị Tươi – Cố vấn Khoa Công nghệ Thông tin, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, đại diện Ban Cố vấn Khoa; GS.TS Đỗ Phúc – Cố vấn, Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia TP.HCM; PGS.TS Phạm Quốc Cường – Phó trưởng Khoa Khoa học và Kỹ thuật Máy tính, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP.HCM; TS. Hà Minh Tân – giảng viên Trường Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia TP.HCM.
Về phía các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp:ông Phạm Thanh Bình – Phó Viện trưởng và ông Hồ Khôi – chuyên viên, Viện Công nghệ thông tin, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Đại tá Trần Huy Định – Trưởng Phòng Khoa học Quân sự, Quân khu 7, Bộ Quốc phòng; ông Nguyễn Phi Thái – Giám đốc Trung tâm Kinh doanh – Khách hàng, Tập đoàn CMC; ông Liêu Tấn Phước – Phó Giám đốc Công ty Dịch vụ MobiFone Khu vực 2; ông Ngô Văn Toàn – Giám đốc PSA Solutions Jsc; ông Trần Vương Duy Hiếu – Giám đốc Công ty Công nghệ T-Plus; ông Nguyễn Duy Hiếu – Phó Giám đốc Công ty TNHH Công nghệ Dịch vụ Sài Gòn; ông Nguyễn Quang Kỳ – Giám đốc Công ty TNHH TMDV Phương Quân; ông Ngô Vũ Quyền – Giám đốc Công ty TNHH LAZTAR; ông Lê Thành Phú – Trưởng phòng, Công ty Cổ phần Tập đoàn Địa ốc Kim Oanh; ông Nguyễn Thế Minh – Phó Giám đốc Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng xã Bình Hưng.
Về phía Trường Đại học Nguyễn Tất Thành:PGS.TS.NGƯT Nguyễn Kim Hồng – Hiệu trưởng Nhà trường; PGS.TS Mai Hải Châu và ThS. Hoàng Hữu Du – Phó Viện trưởng Viện Đào tạo sau đại học.
Về phía Khoa Công nghệ Thông tin:TS. Nguyễn Kim Quốc – Trưởng Khoa; TS. Cao Văn Kiên và ThS. Vương Xuân Chí – Phó trưởng Khoa; PGS.TS Võ Thị Hồng Thắm – Trưởng Bộ môn Khoa học máy tính; ThS. Trần Châu Thanh Thiện – Quyền Trưởng Bộ môn Trí tuệ nhân tạo; ThS. Nguyễn Văn Thành – Quyền Trưởng Bộ môn Mạng máy tính và Truyền thông dữ liệu; ThS. Đỗ Hoàng Nam – Quyền Trưởng Bộ môn Kỹ thuật phần mềm, cùng đội ngũ giảng viên của Khoa.
Về phía cựu học viên các lớp cao học:ông Hoàng Nguyễn Minh Tuấn – Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ và Truyền thông Kỷ Nguyên Mới; ông Huỳnh Thanh Hải – Tổ trưởng Phòng Kiểm tra nội bộ, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành; ông Đinh Xuân Thao – giảng viên Trường Cao đẳng Bách Khoa Nam Sài Gòn; ông Nguyễn Việt Cường – chuyên viên IT, Công ty TNHH Stand Data; bà Nguyễn Ngọc Phương Quỳnh – kỹ thuật, Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Viễn Đạt.
Sự hiện diện của nhiều nhóm liên quan không chỉ mở rộng thành phần tham vấn mà còn phản ánh cách một chương trình sau đại học cần được xây dựng. Giới chuyên môn nhìn vào chiều sâu học thuật và năng lực nghiên cứu; doanh nghiệp quan tâm đến khả năng giải quyết công việc, thích ứng với công nghệ và phối hợp trong môi trường thực tế; trong khi giảng viên, cựu học viên và người học mang đến những phản hồi từ quá trình tổ chức, trải nghiệm và vận dụng chương trình.

PGS.TS.NGƯT Nguyễn Kim Hồng – Hiệu trưởng Trường Đại học Nguyễn Tất Thành phát biểu khai mạc, nhấn mạnh yêu cầu gắn đào tạo sau đại học với nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và nhu cầu thực tiễn
Đào tạo nhân lực AI cần nhiều hơn việc bổ sung học phần
Phát biểu khai mạc và định hướng nội dung làm việc, PGS.TS.NGƯT Nguyễn Kim Hồng nhấn mạnh vai trò định hướng của Nhà trường đối với quá trình nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển nghiên cứu khoa học, mở rộng hợp tác doanh nghiệp và chuẩn bị các điều kiện cho Đề án mở ngành đào tạo Thạc sĩ Trí tuệ nhân tạo.
Việc xây dựng hoặc cập nhật một chương trình không thể chỉ xuất phát từ mức độ quan tâm của thị trường. Trước khi triển khai, cơ sở đào tạo cần trả lời những câu hỏi cụ thể: người học cần đạt được năng lực gì, ai sẽ giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu, hạ tầng nào phục vụ thực hành, doanh nghiệp tham gia ra sao và chất lượng chương trình được đánh giá bằng những tiêu chí nào.
Vì vậy, hội thảo xem xét toàn bộ chu trình đào tạo, từ nhu cầu nhân lực, mục tiêu, chuẩn đầu ra đến cấu trúc chương trình, nguồn lực triển khai và phương thức bảo đảm chất lượng.
Một trong những nội dung trọng tâm là rà soát chương trình đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ Công nghệ thông tin. Dù cùng thuộc một lĩnh vực, hai trình độ hướng đến những nhóm năng lực khác nhau.
Ở bậc thạc sĩ, người học được định hướng phát triển khả năng phân tích, tư vấn, thiết kế, phát triển và triển khai các giải pháp công nghệ thông tin, cùng năng lực làm việc nhóm đa ngành, sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp chuyên môn và thích nghi với thị trường lao động biến động. Đối với bậc tiến sĩ, yêu cầu tập trung vào năng lực nghiên cứu độc lập, khả năng nhận diện khoảng trống khoa học và tạo ra đóng góp mới về tri thức, giải pháp hoặc công nghệ.
Sự khác biệt này cho thấy đào tạo sau đại học không đơn thuần là kéo dài thời gian học so với bậc đại học. Mỗi trình độ cần có mục tiêu, chuẩn đầu ra, phương thức tổ chức và điều kiện nghiên cứu tương ứng.
Chương trình đào tạo Thạc sĩ Công nghệ thông tin, mã ngành 8480201, được tổ chức theo hình thức chính quy, thời gian đào tạo từ 1,5 đến 2 năm với tổng khối lượng 60 tín chỉ, theo định hướng ứng dụng và thiết kế tiếp cận chuẩn AUN-QA.
Cấu trúc chương trình gồm 6 tín chỉ kiến thức chung (10%), 39 tín chỉ kiến thức giáo dục chuyên nghiệp (65%, trong đó 21 tín chỉ cơ sở ngành và 18 tín chỉ chuyên ngành) và 15 tín chỉ thực tập, tốt nghiệp (25%, gồm 6 tín chỉ thực tập tốt nghiệp và 9 tín chỉ đề án thạc sĩ). Lộ trình được bố trí trong bốn học kỳ, mỗi học kỳ 15 tín chỉ; ba học kỳ đầu kết hợp 9 tín chỉ bắt buộc và 6 tín chỉ tự chọn, học kỳ cuối dành trọn cho thực tập và đề án.
Các học phần bao quát nhiều nhóm nội dung: phương pháp nghiên cứu khoa học và triết học; nền tảng trí tuệ nhân tạo, học máy, xử lý ngôn ngữ tự nhiên, thị giác máy tính và xử lý ảnh; dữ liệu và hệ thống với cơ sở dữ liệu nâng cao, cơ sở dữ liệu phân tán, khai phá dữ liệu lớn, điện toán đám mây nâng cao, tính toán song song và phân tán; cùng nhóm ứng dụng và an toàn gồm kiến trúc phần mềm, hệ thống thông tin doanh nghiệp, đánh giá an toàn mạng, Internet vạn vật, thực tế ảo và tương tác người – máy.
Đối với chương trình Tiến sĩ Công nghệ thông tin, mục tiêu đặt ở việc đào tạo nhà khoa học có kiến thức chuyên sâu, năng lực nghiên cứu độc lập và khả năng dẫn dắt nhóm nghiên cứu. Thời gian đào tạo là 3 năm (90 tín chỉ) với người đã có bằng thạc sĩ và 4 năm (129 tín chỉ) với người tốt nghiệp đại học loại giỏi; riêng luận án tiến sĩ chiếm 70 tín chỉ.
Chương trình gồm các khối kiến thức chung; kiến thức cơ sở và chuyên ngành; chuyên đề tiến sĩ; tiểu luận tổng quan; nghiên cứu khoa học và luận án. Lộ trình được tổ chức theo ba năm: năm thứ nhất hoàn thành học phần, đề cương và nghiên cứu tổng quan; năm thứ hai bảo vệ tiểu luận tổng quan, hai chuyên đề tiến sĩ và công bố kết quả nghiên cứu; năm thứ ba tổ chức seminar luận án, bảo vệ cấp Khoa, phản biện độc lập và bảo vệ cấp Trường.

TS. Nguyễn Kim Quốc – Trưởng khoa Công nghệ Thông tin trình bày hệ thống chương trình đào tạo và định hướng phát triển của Khoa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035
Khung quy định mới đặt lại nhiều yêu cầu
Quá trình rà soát hai chương trình được đặt trong bối cảnh Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT về chuẩn chương trình đào tạo các trình độ giáo dục đại học và Thông tư 53/2026/TT-BGDĐT về quy chế tuyển sinh và đào tạo sau đại học, cùng có hiệu lực từ 30/6/2026.
Thông tư 54/2026 quy định khối lượng tối thiểu của trình độ thạc sĩ là 45 tín chỉ và tiến sĩ là 90 tín chỉ; chương trình thạc sĩ định hướng ứng dụng dành 6–9 tín chỉ cho thực tập và 6–9 tín chỉ cho đề án, dự án. Văn bản cũng đặt yêu cầu về đội ngũ: giảng viên cơ hữu đảm nhiệm tối thiểu 65% với chương trình ứng dụng và 75% với chương trình nghiên cứu, kèm điều kiện về phòng học, phòng thí nghiệm, thư viện và học liệu số.
Thông tư 53/2026 áp dụng từ khóa tuyển sinh 01/01/2027, với một số điều chỉnh đáng chú ý ở bậc thạc sĩ: không còn quy định cứng bậc 3/6 đầu vào và 4/6 đầu ra mà giao cơ sở đào tạo xác định theo chuẩn chương trình; sinh viên loại khá trở lên có thể học trước và được công nhận không quá 40% khối lượng chương trình thạc sĩ; thời gian tối đa tăng từ 2 lần lên 2,5 lần thời gian chuẩn; tỷ lệ hoạt động đào tạo bên ngoài cơ sở tăng từ 20% lên 30%. Đáng chú ý, chuẩn đầu ra được mở rộng, ngoài chuyên môn và ngoại ngữ còn nhấn mạnh năng lực số và năng lực sử dụng trí tuệ nhân tạo.
Ở bậc tiến sĩ, quy định nâng chuẩn công bố của người hướng dẫn và nghiên cứu sinh theo hệ thống WoS/Scopus hoặc tạp chí quốc gia loại I, mở rộng đối tượng dự tuyển, yêu cầu công khai toàn văn luận án tối thiểu 30 ngày và cho phép thu hồi văn bằng nếu phát hiện vi phạm.
Những thay đổi này liên quan trực tiếp đến việc thiết kế chuẩn đầu ra, tổ chức đào tạo và bảo đảm chất lượng của cả hai chương trình đang được rà soát.
Phát triển đồng bộ chương trình, đội ngũ và hạ tầng
TS. Nguyễn Kim Quốc – Trưởng Khoa Công nghệ Thông tin – trình bày chuyên đề “Giới thiệu Khoa Công nghệ Thông tin, hệ thống chương trình đào tạo và định hướng phát triển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2035”.
Được thành lập năm 2011, Khoa hiện có 75 nhân sự cơ hữu, gồm 2 giáo sư, 5 phó giáo sư, 8 tiến sĩ và 60 thạc sĩ; quy mô đào tạo khoảng 3.000 sinh viên, học viên và mạng lưới kết nối với hơn 200 doanh nghiệp. Khoa tổ chức theo sáu bộ môn, trong đó có Bộ môn Trí tuệ nhân tạo và Bộ môn Khoa học dữ liệu – hai đơn vị chuyên môn liên quan trực tiếp đến đề án mở ngành đang xây dựng.
Khoa đã có trên 500 bài báo khoa học thuộc hệ thống ISI/Scopus, thực hiện trên 100 đề tài các cấp và triển khai trên 20 dự án thực tiễn. Hạ tầng phục vụ đào tạo, nghiên cứu gồm trung tâm tích hợp dữ liệu, hệ thống điện toán đám mây, máy chủ phục vụ AI và 10 phòng thí nghiệm chuyên dụng.
Ở bậc đại học, Khoa đang triển khai 5 ngành: Công nghệ thông tin; Kỹ thuật phần mềm; Trí tuệ nhân tạo; Khoa học máy tính; Mạng máy tính và Truyền thông dữ liệu, với các hướng đào tạo như hệ thống thông tin, công nghệ kỹ thuật phần mềm, thiết kế và lập trình game, công nghệ trí tuệ nhân tạo, thị giác máy tính, khoa học dữ liệu, công nghệ kỹ thuật mạng và an ninh không gian mạng. Hệ thống chương trình được phát triển theo quy định trong nước, đồng thời tiếp cận các khung tham chiếu CDIO và AUN-QA.
Trong định hướng đến năm 2030, tầm nhìn 2035, Khoa xác định sáu trụ cột: đào tạo, cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học, quốc tế hóa, hợp tác doanh nghiệp và đổi mới sáng tạo, với các chỉ tiêu cụ thể theo từng mốc 2026, 2030 và 2035.
Theo lộ trình này, quy mô người học được đặt mục tiêu tăng từ 3.000 (2026) lên 6.000 (2030) và 12.000 (2035); đội ngũ giảng viên cơ hữu từ 75 lên 160 và 350. Số chương trình thạc sĩ dự kiến tăng từ 1 lên 5 rồi 12; chương trình tiến sĩ từ 1 lên 3 rồi 8. Hạ tầng chuyên môn định hướng mở rộng từ 10 lên 60 phòng thí nghiệm chuyên dụng, từ 15 lên 90 máy chủ và từ 1 lên 10 hệ thống AI/HPC.
Về nghiên cứu, số bài báo ISI/Scopus mỗi năm được đặt mục tiêu tăng từ 30 lên 400; đề tài của giảng viên từ 20 lên 350; dự án chuyển giao công nghệ từ 5 lên 120 mỗi năm. Mạng lưới hợp tác hướng tới 1.000 doanh nghiệp vào năm 2035, trong đó 300 doanh nghiệp chiến lược và 200 doanh nghiệp tham gia đồng xây dựng chương trình đào tạo.
Đây là các mục tiêu dài hạn, cho thấy đào …