(sav.gov.vn) - Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Chiến lược đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, trong đó đến năm 2045 thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP, tạo nền tảng
📌 Thông tin nhanh
- Chủ đề: AI + Crypto
- Nguồn: Kiểm toán nhà nước
- Cập nhật: 27/07/2026
Bức tranh tổng quan
Nội dung chi tiết
(sav.gov.vn) - Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng vừa ký Quyết định số 1266/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045. Chiến lược đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, trong đó đến năm 2045 thuộc nhóm 30 quốc gia dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số, quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững.
Ảnh minh hoạ. Nguồn: Internet
Định hình tầm nhìn quốc gia số với các mục tiêu phát triển toàn diện
Theo Quyết định số 1266/QĐ-TTg, tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam trở thành quốc gia số phát triển, thịnh vượng, an toàn và nhân văn; chuyển đổi số được triển khai toàn diện, đồng bộ, sâu rộng và bao trùm, trở thành phương thức phát triển chủ đạo, động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và chất lượng cuộc sống của người dân.
Chiến lược xác định người dân và doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể đồng thời là đối tượng thụ hưởng chính của quá trình chuyển đổi số. Việt Nam hướng tới xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại dựa trên dữ liệu và trí tuệ nhân tạo (AI), làm chủ các công nghệ số, nền tảng số và sản phẩm số chiến lược, bảo đảm vững chắc chủ quyền số quốc gia.
Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số theo đánh giá của Liên hợp quốc; quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP và trở thành một trong những động lực phát triển chủ yếu của nền kinh tế.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, Chiến lược đề ra hệ thống mục tiêu cụ thể đến năm 2030 trên ba trụ cột gồm: phát triển chính phủ số, phát triển kinh tế số và phát triển xã hội số.
Đối với phát triển chính phủ số, Chiến lược đặt mục tiêu 100% hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 99% người dân, doanh nghiệp hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến; 100% bộ, ngành, địa phương sử dụng thống nhất các nền tảng số dùng chung quốc gia phục vụ chỉ đạo, điều hành và cung cấp dịch vụ công.
Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước sẽ được kết nối, chia sẻ dữ liệu; các cơ sở dữ liệu quốc gia, ngành, lĩnh vực và địa phương được chuẩn hóa, sẵn sàng khai thác cho AI. Các trung tâm điều hành thông minh cấp tỉnh được nâng cấp theo hướng tích hợp AI để phân tích, dự báo, cảnh báo và hỗ trợ ra quyết định.
Chiến lược cũng hướng đến việc 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo kỹ năng số, có tài khoản và được hướng dẫn sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ; đồng thời đưa Việt Nam vào nhóm 50 quốc gia dẫn đầu thế giới về chính phủ điện tử/chính phủ số vào năm 2030.
Đối với kinh tế số, mục tiêu đặt ra là quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 30% GDP; hỗ trợ ít nhất 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; phát triển tối thiểu 5 sàn dữ liệu an toàn, tuân thủ pháp luật; doanh thu thương mại điện tử chiếm từ 15-17% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng.
Chiến lược cũng phấn đấu có 45% doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt gấp 30 lần GDP; trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận, sử dụng các nền tảng "mô hình như một dịch vụ", tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung.
Ở trụ cột xã hội số, hạ tầng băng rộng cáp quang sẽ phủ 100% hộ gia đình; tối thiểu 95% người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép; trên 70% người dân từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân; 100% người dân được lập sổ sức khỏe điện tử và tối thiểu 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản.
Để hoàn thành các mục tiêu này, Chiến lược xác định sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm hoàn thiện thể chế số; phát triển hạ tầng số; phát triển dữ liệu số và nền tảng số dùng chung; phát triển nhân lực số; phát triển doanh nghiệp công nghệ số; tăng cường hợp tác quốc tế.
Dữ liệu và doanh nghiệp công nghệ số trở thành động lực cốt lõi của chuyển đổi số
Một trong những điểm nhấn quan trọng của Chiến lược là xác định dữ liệu là tài nguyên chiến lược, nền tảng vận hành của chính phủ số, động lực phát triển kinh tế số và nguồn lực thúc đẩy xã hội số.
Theo đó, Việt Nam sẽ thiết lập phương thức quản trị dữ liệu quốc gia thống nhất theo nguyên tắc dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung", đồng thời bảo đảm an toàn và khai thác hiệu quả.
Các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và cơ sở dữ liệu địa phương sẽ tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện, kết nối và chia sẻ đồng bộ. Trên cơ sở đó, hình thành cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia tích hợp AI phục vụ chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công cũng như phát triển chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Những lĩnh vực dữ liệu nền tảng được ưu tiên gồm dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, cán bộ, công chức, viên chức, giao thông, tài nguyên và môi trường.
Chiến lược đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và tái sử dụng dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính, bảo đảm kết quả xử lý hồ sơ được chia sẻ và khai thác theo quy định nhằm đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn trình và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.
Song song với đó, các nền tảng số dùng chung quốc gia sẽ tiếp tục được phát triển theo hướng tích hợp AI, ưu tiên các nền tảng về chia sẻ dữ liệu, định danh và xác thực điện tử, thanh toán số, bản đồ số, điều hành và giám sát, trợ lý AI dùng chung, dữ liệu mở cũng như các nền tảng phục vụ y tế số, giáo dục số, thương mại số, logistics, nông nghiệp, du lịch và đô thị thông minh.
Chiến lược cũng dành nhiều nội dung cho phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, coi đây là lực lượng nòng cốt trong việc tiếp thu, làm chủ, phát triển và ứng dụng công nghệ số để giải quyết các bài toán lớn của quốc gia.
Theo đó, ưu tiên sẽ được dành cho việc hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ số "Make in Viet Nam" có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, với nòng cốt là các doanh nghiệp phát triển nền tảng số, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an toàn thông tin mạng, điện toán đám mây, bán dẫn, phần mềm, nội dung số và các giải pháp chuyển đổi số theo từng ngành, lĩnh vực.
Nhà nước tiếp tục phát huy vai trò là thị trường lớn và khách hàng quan trọng của doanh nghiệp công nghệ số thông qua cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ, mua sắm công, thuê dịch vụ công nghệ số và thử nghiệm có kiểm soát. Đây được xem là giải pháp nhằm tạo không gian phát triển cho doanh nghiệp trong nước, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ số vào các lĩnh vực trọng điểm như dịch vụ công trực tuyến, nền tảng số dùng chung, cơ sở dữ liệu dùng chung, an toàn thông tin mạng, y tế số, giáo dục số, thanh toán số và quản trị số.
Bên cạnh đó, Chiến lược khuyến khích tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, viện nghiên cứu, trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao cùng các bộ, ngành và địa phương để hình thành chuỗi giá trị công nghệ số trong nước, nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển sản phẩm, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thương mại hóa sản phẩm và gia tăng tỷ lệ giá trị nội địa trong các sản phẩm, dịch vụ số.
Với hệ thống mục tiêu rõ ràng cùng các nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 được kỳ vọng sẽ tạo bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng chính phủ số, phát triển kinh tế số và xã hội số, góp phần đưa Việt Nam tiến nhanh trên lộ trình trở thành quốc gia số phát triển, có năng lực cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới.
Lượt xem: 111
Nguồn: Kiểm toán nhà nước